Cơ chế giải quyết tranh chấp và cơ chế rà soát chính sách thương mại
1:24' 1/4/2007


WTO giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên ra sao?

WTO giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên theo những quy tắc và thủ tục nêu tại Bản ghi nhớ về Giải quyết Tranh chấp (DSU).

Trên thực tế, WTO là một tổ chức lớn, bao gồm nhiều thành viên và có nhiều hiệp định liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế nên tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, Bản ghi nhớ nói trên có một vị trí rất quan trọng trong các văn kiện của WTO và được coi là một kết quả tích cực của Vòng đàm phán Uruguay.

 

Doanh nghiệp một nước thành viên này có được kiện chính phủ một nước thành viên khác hay không?

 

Không. WTO là một tổ chức liên chính phủ, chỉ xử lý mối quan hệ giữa các chính phủvới nhau. Các tranh chấp mà WTO giải quyết là tranh chấp giữa các chính phủ chứ không phải là tranh chấp giữa doanh nghiệp nước này với chính phủ nước kia hoặc doanh nghiệp nước này với doanh nghiệp nước kia.

 

Vậy khi doanh nghiệp phát hiện thấy chính phủ một nước thành viên khác có hành động vi phạm quy định của WTO (nâng thuế suất quá mức đã ràng buộc, áp đặt hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, …) thì phải làm sao?

 

Khi đó, doanh nghiệp phải phản ánh với cơ quan đầu mối về WTO tại nước mình và yêu cầu cơ quan này có biện pháp thích hợp. Với tư cách là một đại diện của chính phủ, cơ quan này mới có quyền đưa vấn đề ra WTO, tất nhiên là sau khi đã thẩm tra tính chính xác của thông tin do doanh nghiệp cung cấp và xem xét thấy không còn cách giải quyết nào thích hợp hơn.

Còn nếu chỉ là trường hợp tranh chấp thuần tuý giữa doanh nghiệp nước này với doanh nghiệp nước kia (ví dụ về việc giao hàng chậm, thanh toán không đầy đủ, hàng hoá không đúng quy cách phẩm chất) thì cơ quan chính phủ cũng như WTO không  đứng ra giải quyết. Trường hợp này sẽ phải dựa vào trọng tài thương mại, toà án hoặc theo quy định khi hai doanh nghiệp giao kết hợp đồng.

WTO có cơ quan tài phán độc lập hay không?

Không. Cơ quan có quyền phân xử của WTO chính là Đại Hội đồng, mà khi họp để giải quyết tranh chấp thì được gọi là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB).

 

Phạm vi áp dụng của DSU thế nào?

 

DSU áp dụng để giải quyết tất cả tranh chấp liên quan đến Hiệp định thành lập WT, các hiệp định về thương mại hàng hoá (GATT và các hiệp định liên quan), Hiệp định GATS, Hiệp định TRIPS, các hiệp định thương mại nhiều bên và ngay cả chính DSU. DSU không áp dụng cho Cơ chế Rà soát Chính sách Thương mại và các quyết định, bản ghi nhớ khác đã thông qua tại Vòng Uruguay.

 

Tôi thấy ngay trong một số hiệp định của WTO như Hiệp định TBT, Hiệp định về Chống phá giá cũng có điều khoản riêng về giải quyết tranh chấp. Vậy DSU có áp dụng với những hiệp định này không?

 

DSU vẫn áp dụng với các hiệp định này. Nhưng trong trường hợp quy định của DSU mâu thuẫn với quy định tại điều khoản về giải quyết tranh chấp của riêng các hiệp định thì sẽ áp dụng điều khoản về giải quyết tranh chấp của hiệp định ấy.

 

Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO diễn ra như thế nào?

Khi có tranh chấp nảy sinh, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại và đề nghị hai bên cùng tham vấn để tìm ra cách giải quyết thoả đáng. Yêu cầu về tham vấn cần phải được thông báo cho DSB và các Hội đồng và Uỷ ban liên quan của WTO.

Nếu có nước thứ ba nào quan tâm thì cũng có thể yêu cầu tham gia tham vấn. Bất kỳ lúc nào, các bên tranh chấp cũng có thể vận dụng trung gian, hoà giải để giải  quyết tranh chấp.

Nếu quá trình tham vấn thất bại, và trung gian, hoà giải (nếu có) cũng không thành công thì nước khiếu nại có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) cho lập ban hội thẩm.

Ban hội thẩm có trách nhiệm đánh giá, thẩm định một cách khách quan vấn đề mà nước khiếu nại đưa ra và tập hợp kết quả nghiên cứu của mình trình lên DSB.

Sau khi dành đủ thời gian cho các nước thành viên xem xét báo cáo của ban hội thẩm, DSB sẽ họp để thông qua báo cáo này, trừ phi có một nước thành viên kháng nghị.

Nếu có nước thành viên kháng nghị thì DSB sẽ giao cho Cơ quan Phúc thẩm xem lại báo cáo của ban hội thẩm. Cơ quan Phúc thẩm có quyền giữ nguyên, sửa đổi hoặc bảo lưu những kết quả và kết luận nêu trong báo cáo của ban hội thẩm.

Nếu DSB quyết định thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm thì các bên tranh chấp sẽ phải chấp nhận báo cáo này. Trên cơ sở báo cáo của ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm, DSB sẽ đưa ra khuyến nghị hoặc phán xử cho các bên tranh chấp.

Sau đó, các bên tranh chấp sẽ phải thực hiện khuyến nghị hoặc phán xử của DSB. Nếu điều này không thực hiện được thì nước bị khiếu nại có thể đề nghị bồi thường bằng một biện pháp khác.

Nếu không đạt được thoả thuận về việc bồi thường thì bên khiếu nại có thể yêu cầu DSB cho phép có hành động trả đũa bằng cách ngưng các ưu đãi hoặc nghĩa vụ tương ứng đối với nước vi phạm.

 

Ban hội thẩm gồm bao nhiêu người, và những ai có thể tham dự ban hội thẩm?

 

Ban hội thẩm thông thường có 3 người, trừ phi các bên tranh chấp đồng ý mở rộng lên

đến 5 người.

Những người tham gia ban hội thẩm thường là những cá nhân có uy tín, trình độ, kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đang tranh chấp. Những người này có thể đang làm việc cho một cơ quan chính phủ hoặc tổ chức phi chính phủ, nhưng khi làm việc trong ban hội thẩm thì hoàn toàn với tư cách cá nhân và không chịu ảnh hưởng của bất kỳ nước thành viên nào.

Công dân của nước liên quan đến tranh chấp sẽ không được tham gia ban hội thẩm.

Các hội thẩm viên được lựa chọn từ một danh sách do Ban Thư ký WTO lập và duy trì. Các nước thành viên đều có thể đề cử công dân của nước mình để đưa vào danh sách này.

Khi tranh chấp xảy ra giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, nếu nước đang phát triển có yêu cầu thì ban hội thẩm phải có ít nhất một người là công dân một nước đang phát triển.

 

Một ban hội thẩm có thể tham gia giải quyết nhiều vụ tranh chấp?

 

Có. Một ban hội thẩm chỉ được thành lập khi có tranh chấp xảy ra và kết thúc hoạt động khi tranh chấp giải quyết xong. Nhưng nếu tại một thời điểm mà có nhiều vụ tranh chấp trong cùng một lĩnh vực thì một ban hội thẩm có thể tham gia giải quyết  nhiều vụ tranh chấp.

Một cá nhân sau khi kết thúc hoạt động tại một ban hội thẩm này lại có thể tham gia làm việc tại một ban hội thẩm khác.

 

Cơ quan Phúc thẩm có phải hoạt động mang tính lâm thời như ban hội thẩm?

Khác với ban hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm là một cơ quan thường trực do DSB lập ra. Cơ quan này bao gồm 7 người có uy tín, trình độ, am hiểu về luật, thương mại quốc  tế và không liên quan đến bất kỳ chính phủ nào. Nhiệm kỳ làm việc của họ là 4 năm và có thể được bầu lại thêm một nhiệm kỳ nữa.

Tại mỗi vụ tranh chấp có kháng nghị sẽ có 3 người trong Cơ quan Phúc thẩm đứng ra

xem xét báo cáo của ban hội thẩm. Việc xác định 3 người này dựa trên cơ sở luân phiên.

 

Các bên thứ ba có được kháng nghị lại báo cáo của ban hội thẩm?

 

Không. Chỉ có bên khiếu nại và bên bị khiếu nại mới được kháng nghị. Tuy nhiên, các bên thứ ba có quyền lợi thiết yếu có thể yêu cầu được trình bày quan điểm của mình trước Cơ quan Phúc thẩm.

 

Thông tin do các bên tranh chấp cung cấp cho ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có được công bố cho các nước thành viên WTO hay không?

 

Các thông tin này sẽ được giữ kín và chỉ thông báo cho các bên tranh chấp. Ngoài ra, các bên tranh chấp có thể tuỳ ý công bố quan điểm của mình.

Nếu một nước thành viên WTO có yêu cầu thì các bên tranh chấp phải cung cấp tóm tắt thông tin trong bản giải trình của mình và những thông tin này có thể công bố được.

 

Việc bồi thường được thực hiện như thế nào?

 

Bồi thường được thực hiện bằng cách nước bị khiếu nại sẽ dành cho nước khiếu nại ưu đãi đối với những mặt hàng và lĩnh vực khác ở mức độ tương đương với mức độ tương đương với thiệt hại gây ra do nước bị khiếu nại vi phạm một hiệp định của WTO. Mặt hàng nào, lĩnh vực nào hoặc mức độ bao nhiêu sẽ do hai nước tự thoả thuận.

Ví dụ nước A đã áp dụng những biện pháp hạn chế số lượng đối với mặt hàng X làm cho nước B bị thiệt hại. Nước A có thể đề nghị bồi thường bằng cách nới lỏng hạn chế số lượng đối với mặt hàng Y, hoặc giảm thuế quan với mặt hàng Z, hoặc mở cửa sớm hơn đối với một lĩnh vực dịch vụ nào đó

 

Sau khi DSB ra phán xử thì nước bị khiếu nại sẽ phải bồi thường thiệt hại cho nước khiếu nại?

 

Có hai trường hợp xảy ra khi DSB thông qua báo cáo của ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm.

Nếu kết quả của báo cáo cho thấy nước khiếu nại đã khiếu nại sai, không đúng căn cứ thì nước này sẽ phải rút lại khiếu nại và chấm dứt tranh chấp.

Nếu kết quả của báo cáo cho thấy nước khiếu nại đã khiếu nại đúng, tức là nước bị khiếu nại đã vi phạm một hiệp định của WTO thì ưu tiên trước hết trong phán xử của DSB sẽ là yêu cầu nước bị khiếu nại phải có biện pháp khắc phục, sửa chữa vi phạm để trở lại đúng với tinh thần hiệp định.

Như vậy, bồi thường không phải là biện pháp đầu tiên được áp dụng ngay sau khi DSB ra phán xử. Bồi thường chỉ là biện pháp đem ra áp dụng nếu như nước bị khiếu nại không thể khắc phục ngay được việc vi phạm các hiệp định của WTO.

 

Nếu không thể thương lượng được mức bồi thường thoả đáng thì nước khiếu nại có quyền mặc nhiên áp dụng biện pháp trả đũa không?

 

Không. Khi đó nước khiếu nại vẫn phải đề nghị để được DSB cho phép trả đũa. Thông thường DSB cho phép hành động này, nhưng nếu hiệp định có liên quan không cho phép rút bỏ ưu đãi hoặc nghĩa vụ đối với hiệp định thì DSB sẽ không cho phép trả đũa.

Nếu mức độ trả đũa quá với mức thiệt hại, nước bị khiếu nại có thể yêu cầu ban hội thẩm hoặc một trọng tài do Tổng Giám đốc WTO chỉ định đứng ra xem xét. Quyết định của trọng tài trong trường hợp này là tối hậu và buộc các nước phải tuân theo.

 

Khi xảy ra tranh chấp, ngoài cơ chế giải quyết của WTO thì các nước thành viên có được dựa vào những cơ chế khác hay không?

 

Có. Nếu cùng nhất trí thì các bên tranh chấp có thể đưa vụ việc ra trọng tài giải quyết. Phán quyết của trọng tài sẽ được thông báo cho DSB và các Hội đồng hoặc Uỷ ban liên quan.

 

Từ quan điểm của các nước đang phát triển, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đem lại lợi ích gì?

 

Có thể ví các hiệp định của WTO như một bộ luật điều chỉnh các mối quan hệ thương mại quốc tế, và cơ chế giải quyết tranh chấp là một công cụ đảm bảo cho việc thực hiện bộ luật ấy.

Trước kia, nếu chỉ dựa vào các thoả thuận thương mại song phương, từng nước đang phát triển ít dám đối đầu hoặc làm căng với các nước phát triển vì không tìm được tiếng nói ủng hộ. Với một hệ thống thủ tục, quy tắc tương đối chặt chẽ như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, trước hết các nước đang phát triển có thể đoàn kết, cùng nhau khởi kiện một nước phát triển. Ngay cả khi nước đang phát triển một mình đứng ra khởi kiện thì do vấn đề đã được đưa ra WTO, được tất cả các nước thành viên khác biết đến và được xem xét bởi một cơ cấu khách quan nên nước phát triển bị kiện cũng không thể tuỳ tiện chèn ép nước đang phát triển.

Thực tế cho thấy, từ khi WTO ra đời, số nước đang phát triển là bên khởi kiện và thắng kiện trong các vụ giải quyết tranh chấp đã tăng lên rất nhiều.

 

Thế còn điểm hạn chế của cơ chế này là như thế nào?

 

Điểm hạn chế lớn nhất của cơ chế này nằm ở khâu thực thi, đó là việc bồi thường chỉ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc. Một nước phát triển vi phạm quy định của WTO có thể cố tình không chịu đưa ra biện pháp khắc phục để chấm dứt i phạm, và cũng không chịu bồi thường. Mặc dù nước đang phát triển có thể đưa ra biện pháp trả đũa, nhưng do thực lực kinh tế yếu kém nên việc trả đũa cũng không có tác dụng bù đắp được thiệt hại.

 

Liệu một nước có thể cố tình trì hoãn, kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp hay không?

 

Không. DSU đã quy định khung thời gian rõ ràng cho từng giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, cụ thể như sau:

- Từ khi nước khiếu nại đề nghị tham vấn đến khi nước bị khiếu nại phải trả lời 10 ngày

- Từ khi trả lời đến khi bắt đầu tham vấn 20 ngày

- Quá trình tham vấn 30 ngày

- Lập quy chế làm việc của ban hội thẩm 20 ngày

- Từ khi ban hội thẩm trình báo cáo đến khi DSB thông qua báo cáo 60 ngày

- Kháng nghị (nếu có) 60 ngày

- Chuẩn bị cho việc thực hiện phán xử của DSB 30 ngày

- Thương lượng bồi thường 20 ngày

- Xin phép trả đũa 30 ngày./.

Luật Việt

Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất