Sửa đổi hệ thống pháp luật thực thi cam kết gia nhập WTO
21:51' 27/6/2007
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật Việt Nam bắt nguồn trước tiên từ chính sự phát triển nội tại của đất nước. Đến giai đoạn này, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra các yêu cầu buộc chúng ta phải có những bước đi bứt phá mới có thể đạt được những gì mà thực tiễn đang chờ đợi.

1. Tổng quan về một số yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật

Yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật Việt Nam bắt nguồn trước tiên từ chính sự phát triển nội tại của đất nước. Đến giai đoạn này, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra các yêu cầu buộc chúng ta phải có những bước đi bứt phá mới có thể đạt được những gì mà thực tiễn đang chờ đợi. Bên cạnh đó, cũng có những yêu cầu từ bên ngoài tác động vào, đáng chú ý là yêu cầu của việc gia nhập WTO của Việt Nam, buộc Việt Nam phải có những bước nhảy vọt trong thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình để thực thi các cam kết với WTO.

Đối với WTO, theo quy định tại Điều XVI Khoản 4 Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, “Mỗi thành viên phải đảm bảo sự thống nhất của các luật, các quy định dưới luật và những quy tắc hành chính với các nghĩa vụ của mình được quy định trong các Hiệp định của WTO” nên việc rà soát, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là yêu cầu không thể thiếu. Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp rà soát lại hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc rà soát của Bộ Tư pháp đã đề cập tới toàn bộ các Hiệp định của WTO, tập trung vào ba lĩnh vực: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Kết quả rà soát (đến đầu năm 2005) cho thấy, tổng số các văn bản quy phạm pháp luật ban hành ở cấp trung ương có liên quan trực tiếp đến các Hiệp định của WTO là 325 văn bản (43 Luật; 31 Pháp lệnh; 102 Nghị định; 8 Quyết định của Thủ tướng; 1 Chỉ thị của Thủ tướng; 66 Thông tư; 71 Quyết định của Bộ trưởng; 1 Công văn của các Bộ, ngành; 2 văn bản của Tòa án nhân dân tối cao). Tổng số các văn bản quy phạm pháp luật ban hành ở cấp trung ương liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thành viên theo các quy định hiện hành của WTO được kiến nghị sửa đổi, bổ sung là 44 (16 Luật, 1 Pháp lệnh, 18 Nghị định, 1 Quyết định của Thủ tướng; 8 văn bản cấp Bộ); tổng số văn bản quy phạm pháp luật ở cấp trung ương được kiến nghị ban hành mới để thực thi trực tiếp các nghĩa vụ thành viên theo các quy định hiện hành của WTO là 42 (8 Luật, 3 Pháp lệnh, 14 Nghị định, 17 văn bản ở cấp Bộ). Đó là chưa nói đến các văn bản cần được ban hành để thực thi quyền lợi của thành viên trong quan hệ thương mại quốc tế với các nước.

Dựa vào kết quả rà soát nói trên của Bộ Tư pháp, các đề nghị cụ thể của các Bộ, ngành liên quan và tình hình cụ thể công việc của nhà nước, Chính phủ đã đề xuất với Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội dành riêng phần ưu tiên nhất định trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm cho việc xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, trong Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh nhiệm kỳ XI của Quốc hội nói chung, Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm nói riêng, số lượng các dự án luật và pháp lệnh liên quan đến lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế và WTO đã chiếm tỷ lệ đáng kể.

Nếu xem xét, so sánh chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật Việt Nam trong các lĩnh vực khác với chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật Việt Nam theo các quy định của WTO và phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, thì có thể nhận thấy khối lượng công việc này là rất lớn. Mặt khác, các quy định, luật lệ của WTO rất chung, rất trừu tượng, có gắn kết với nhiều học thuyết kinh tế, thương mại quốc tế và các án lệ thương mại quốc tế, nên Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO yêu cầu tại mỗi phiên đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, phía Việt Nam phải đưa ra bản chào cam kết trong đó có Chương trình hành động lập pháp nhằm điều chỉnh hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với các cam kết về nghĩa vụ thành viên. Mỗi bản chào Chương trình hành động lập pháp có hai phần, đó là phần cập nhật tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ phiên đàm phán trước đó và phần cam kết các văn bản sẽ ban hành, điều chỉnh cho phù hợp nghĩa vụ thành viên WTO. Theo sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chuẩn bị Chương trình này cùng với Dự kiến về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Chính phủ.

Cho tới khi kết thúc đàm phán gia nhập WTO vào tháng 10/2006, theo hướng dẫn của WTO, các chương trình hành động lập pháp của Việt Nam được xây dựng định hướng dựa trên ba tiêu chí chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, đảm bảo tính khả thi trong điều kiện lập pháp của Việt Nam và phải gắn kết với Chương trình xây dựng pháp luật 5 năm và hàng năm của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã được thông qua và các Chương trình, kế hoạch ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của Chính phủ.

- Thứ hai, Chương trình hành động lập pháp này được xây dựng dựa trên cơ sở các kết quả rà soát pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO của Việt Nam được các cơ quan liên quan tiến hành từ năm 2000 và liên tục cập nhật theo kết quả đàm phán gia nhập WTO cho đến nay. Các kết quả rà soát này phản ánh nhu cầu nội tại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước ta trong thời gian gần đây. Mặt khác, nó cũng phản ánh yêu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế, yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam khi ta tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và đặc biệt là WTO. Chương trình xây dựng pháp luật phục vụ gia nhập WTO thời gian qua còn được xây dựng trên cơ sở giả định lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam là vào cuối năm 2006 và có gắn kết với sức ép của các chương trình và kế hoạch xây dựng pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ về các lĩnh vực khác như văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, bảo vệ pháp luật... của đất nước.

- Thứ ba, Chương trình hành động lập pháp cũng phải tính đến các yêu cầu cụ thể của các nước thành viên WTO đối với Việt Nam trong quá trình đàm phán; kinh nghiệm của Việt Nam trong thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, ASEAN, APEC.., cũng như kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này.

2. Một số nhận xét về kết quả xây dựng pháp luật phục vụ đàm phán, gia nhập WTO và thực thi các cam kết với WTO

2.1. Về kết quả rà soát các quy định cơ bản của WTO (Rà soát WTO)

Kết quả cụ thể có được từ việc rà soát, đối chiếu, phân tích đánh giá cho thấy, về cơ bản, hệ thống pháp luật Việt Nam là tốt, khá phù hợp với yêu cầu của WTO và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Hệ thống pháp luật đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng, đời sống kinh tế người dân không ngừng nâng cao, tình hình chính trị - xã hội ổn định. Đành rằng, nó cũng còn một vài vấn đề cần tiếp tục khắc phục cho thích ứng hơn với WTO và tình hình mới.

Đối chiếu chi tiết các lĩnh vực cụ thể do WTO điều chỉnh cho thấy một số điểm chính sau đây:

2.1.1 Về thương mại hàng hoá

Đây là một lĩnh vực truyền thống khá quen thuộc với nước ta, nhất là chúng ta đã có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Nhìn chung, nhiều quy định của pháp luật nước ta liên quan đến GATT 94, các Hiệp định về thương mại hàng hoá của WTO và các cam kết của Việt Nam cơ bản thống nhất với các nghĩa vụ của thành viên WTO. Việt Nam có thể thực hiện được ngay các quy định của WTO về nghĩa vụ của thành viên WTO trong lĩnh vực về thương mại hàng hoá.

Tuy vậy, cũng có một số quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến thương mại hàng hoá chưa phản ánh đầy đủ nghĩa vụ thành viên theo quy định của WTO. Chẳng hạn, các vấn đề về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, đặc biệt là cách tính thuế trong các trường hợp cụ thể, một số quy định về quyền của các thành viên của doanh nghiệp, về doanh nghiệp nhà nước, quyền thương mại của các tổ chức, cá nhân khác nhau, thực tiễn thực hiện quy tắc đối xử quốc gia, những quy định về TRIMs... đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp điều chỉnh thích hợp.

2.1.2 Về sở hữu trí tuệ (SHTT)

Nội dung của quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định TRIPS, cơ bản bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và cơ chế thực thi các quyền sở hữu trí tuệ đó. Về cơ bản, các quy định hiện hành của pháp luật nước ta về quyền sở hữu trí tuệ đã thống nhất với các quy định của WTO về sở hữu trí tuệ và các cam kết của Việt Nam. Việt Nam có thể thực hiện được ngay các quy định của WTO về nghĩa vụ của thành viên WTO trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy vậy, một số quy định về cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quy định về các thủ tục tố tụng hành chính và tư pháp, kể cả các chế tài hình sự, dân sự, hành chính và các biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được tiếp tục cụ thể hoá để bảo đảm tốt hơn các yêu cầu của WTO.

2.1.3. Về thương mại dịch vụ

Đây là phần quy định mới của WTO, khá phức tạp, được quy định trong Hiệp định chung của WTO về thương mại dịch vụ (GATS ), động chạm đến nhiều lĩnh vực nhạy cảm và quyền lợi thiết yếu của đất nước, liên quan đến an ninh, quốc phòng và bản sắc văn hoá dân tộc.

Theo Hiệp định GATS và quy định của Liên hợp quốc về phân loại các sản phẩm dịch vụ cơ bản (CPC), thương mại dịch vụ được phân thành 12 nhóm ngành, với trên 150 ngành dịch vụ khác nhau (trong WTO con số này lên đến hơn 200). Kết quả đối chiếu, phân tích, đánh giá các quy định của WTO, các cam kết của Việt Nam với pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến thương mại dịch vụ cho thấy, Việt Nam có khá nhiều quy định cơ bản đáp ứng được yêu cầu của WTO. Việt Nam có thể thực hiện được ngay hầu hết các quy định của WTO về nghĩa vụ của thành viên WTO trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Tuy vậy, trong một số lĩnh vực, tuy có quy định nhưng cũng còn một số vấn đề pháp luật Việt Nam còn thiếu, hoặc có quy định nhưng chưa rõ ràng. Một số quy định về độc quyền cũng cần xem xét thêm để có giải pháp điều chỉnh pháp luật thích hợp.

2.1.4. Về tính minh bạch, công khai

Phân tích rộng hơn các kết quả rà soát, đối chiếu, đánh giá cho thấy, nhiều quy định của pháp luật Việt Nam cơ bản thống nhất với các cam kết của chúng ta trong các hiệp định với các tổ chức quốc tế như ASEAN (AFTA, AIA...), APEC, WCO, ADB, WB, IMF... và các hiệp định song phương với các nước (các Hiệp định về thương mại, sở hữu trí tuệ, đầu tư, du lịch ...) và quy định về nghĩa vụ thành viên WTO. Quy định trong hệ thống pháp luật đã được chúng ta chủ động ban hành từ trước, theo các Chương trình xây dựng pháp luật năm năm và hàng năm của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và kế hoạch công tác hàng năm của Chính phủ. Có một số quy định của WTO trên thực tế chúng ta đã tự thực hiện từ trước. Điều đó cho thấy một phần quan trọng của các quy định pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong giai đoạn gần đây không phải được đặt ra từ bản thân việc ký kết các Hiệp định song phương, đa phương, gia nhập ASEAN, APEC và WTO, mà chủ yếu là xuất phát từ chính nhu cầu phát triển nội tại của nền kinh tế nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong các lĩnh vực do WTO quản lý, pháp luật chúng ta có đủ quy định để thực thi có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ thành viên WTO. Tuy vậy, cũng cần thấy rằng, để bảo đảm tốt hơn chủ quyền kinh tế của quốc gia, bảo đảm cao hơn khả năng cạnh tranh của kinh tế nước nhà thì còn phải có giải pháp mạnh mẽ trong cải cách kinh tế, cải cách pháp luật, tư pháp, hành chính, cải cách thể chế, loại bỏ dấu ấn của cơ chế kinh tế hành chính bao cấp trước đây, hạn chế đến tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp...

Về kết quả cụ thể, nếu nhìn lại thời gian qua có thể thấy, sau khi có kết quả rà soát, đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội đã có Chương trình xây dựng pháp luật mới. Quốc hội đã có Nghị quyết số 48/2001/QH10 ngày 28/11/2001 phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA). Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 12/3/2002 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được gấp rút chuẩn bị. Đáng chú ý nhất trong giai đoạn từ sau khi có kết quả Vòng 1 rà soát BTA và Vòng 1 rà soát các Hiệp định của WTO là việc nhà nước Việt Nam ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế. Số các văn bản luật, pháp lệnh được ban hành trong thời gian trước vòng 10 đàm phán gia nhập WTO (trước năm 2005) là 38 văn bản luật, pháp lệnh. Riêng trong năm 2005, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản luật, pháp lệnh, trong số đó có hơn 20 văn bản luật, pháp lệnh đã được thông báo cho Ban Thư ký WTO là những văn bản mới có liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ thành viên của Việt Nam với WTO. Đến tháng 10 năm 2006, Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua 07 luật và 01 pháp lệnh liên quan trực tiếp đến WTO, đó là Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (tháng 6/2006), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (6/2006), Luật Luật sư (6/2006), Luật Điện ảnh (6/2006), Luật Chứng khoán (6/2006), Luật Công nghệ thông tin (6/2006), Luật Kinh doanh bất động sản (6/2006), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (3/2006).

Nhiều văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, văn bản của các Bộ, ngành hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh nói trên, phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế và WTO cũng đã được ban hành. Một số điều ước quốc tế nhiều bên quan trọng liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế và WTO đã được Việt Nam gia nhập. Nhiều điều ước quốc tế song phương về đầu tư, tín dụng, hàng hải thương thuyền, du lịch, hàng không... đã được ký kết. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các hoạt động hội nhập kinh tế khu vực trong phạm vi ASEAN, APEC, ASEM, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - úc - New Zilan, ASEAN - ấn độ, ASEAN - Hàn quốc, Việt Nam - Hoa Kỳ...

2.2. Về kết quả rà soát các quy định của Bộ hồ sơ cam kết về điều kiện và quy chế thành viên WTO của Việt Nam (Rà soát WTO+)

Theo báo cáo bước đầu của các bộ, ngành liên quan, có thể nhận thấy chúng ta không phải bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thực thi các cam kết của Việt Nam về điều kiện và quy chế thành viên WTO của Việt Nam. Về luật và pháp lệnh, trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, có thể cần sửa đổi Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt để thực thi cam kết về thuế đối với rượu, bia; đối với Biểu thuế nhập khẩu, cũng cần xem xét để có giải pháp thích hợp, giải pháp đó có thể là ban hành Biểu thuế quan tối huệ quốc thay cho Biểu thuế nhập khẩu, hoặc cũng có thể làm như trước đây ta vẫn làm trong quá trình thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan ASEAN/ AFTA. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bên cạnh việc xây dựng và thông qua văn bản liên ngành hướng dẫn một số vấn đề trong tố tụng liên quan đến các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, có thể cần điều chỉnh một số quy định của Bộ luật Hình sự và Luật sở hữu trí tuệ để bảo đảm các cam kết về các biện pháp chế tài liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, có thể cần điều chỉnh một số quy định của Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Bưu chính, viễn thông, Luật Doanh nghiệp. Về quy định liên quan đến minh bạch, công khai, có thể phải điều chỉnh một số quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về các văn bản dưới luật, pháp lệnh, có thể phải điều chỉnh một số quy định liên quan đến các luật, pháp lệnh nói trên và có thể cần ban hành một số văn bản cấp Bộ, ngành để hướng dẫn cụ thể thi hành các cam kết của Việt Nam theo Bộ hồ sơ cam kết về điều kiện và quy chế thành viên WTO của Việt Nam.

3. Một số vấn đề pháp luật cần tiếp tục xử lý

3.1. Về một số khái niệm trong các cam kết

- Thứ nhất, đó là quan niệm về "thương mại". Khái niệm "thương mại" trong thực tiễn thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng. Trong khi đó, pháp luật thương mại Việt Nam lại có quan niệm hẹp về vấn đề này. Việc quan niệm hẹp như vậy trên thực tế đã làm phát sinh không ít phức tạp khi Việt Nam thực thi Công ước Niu - Ước năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng như áp dụng Luật Thương mại và Pháp lệnh về Trọng tài thương mại. Theo Quyết định số 453/CTN ngày 28 tháng 7 năm 1995 của Chủ tịch nước về việc gia nhập Công ước Niu - Ước, việc giải thích thuật ngữ "quan hệ pháp luật thương mại" trong Công ước đó trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam (đến nay thì không rõ sẽ phải theo cách hiểu của Luật Thương mại hay cách hiểu của Pháp lệnh về Trọng tài thương mại).

- Thứ hai, đó là quan niệm về "hàng hóa", "hàng hoá tương tự" và "xuất xứ hàng hoá". Đối với thuật ngữ "hàng hóa", vấn đề cũng không kém phần phức tạp. Luật Thương mại và Luật Hải quan có các định nghĩa "hàng hoá" khá khác nhau. Các hiệp định của WTO không có định nghĩa về khái niệm này, nhưng các hiệp định đó đều dựa vào quy định của Công ước của Tổ chức Hải quan thế giới về Hệ thống hài hoà về Mã số và Mô tả hàng hoá (Công ước HS) để xử lý vấn đề. Việt Nam đã là thành viên của Công ước này và Công ước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam từ ngày 01/01/2000. Theo quy định, tất cả những sản phẩm cụ thể nào được liệt kê, được mã hoá và mô tả trong Danh mục HS thì được gọi là hàng hoá, chứ không chung chung và rất trừu tượng như đã được định nghĩa trong Luật Thương mại hoặc Luật Hải quan của chúng ta.

Việc xác định một “hàng hóa tương tự” không phải lúc nào cũng được tiến hành thuận lợi, do vậy đã có không ít trường hợp tranh chấp quốc tế phát sinh giữa các nước thành viên WTO quanh vấn đề này. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng và cụ thể về “hàng hóa tương tự”; vả lại, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Việt Nam về xác định một hàng hoá tương tự cũng chưa xảy ra. Do vậy, trong thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO cần chú ý đến các quyết định của WTO về giải quyết tranh chấp loại này. Các quyết định của WTO giải quyết tranh chấp loại này được coi như là án lệ của WTO.

Vấn đề xuất xứ của hàng hóa cũng khá phức tạp. Mất một thời gian dài ta mới có một văn bản của Chính phủ quy định về vấn đề này, nhưng thực tiễn và kinh nghiệm xử lý vấn đề này của Việt Nam chưa nhiều.

- Thứ ba, đó là quan niệm về "dịch vụ” và “thương mại dịch vụ”. Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa về dịch vụ theo cách hiểu chung của WTO, theo đó mọi hoạt động hoặc sản phẩm được liệt kê vào, được mã hoá và mô tả trong Bảng phân loại dịch vụ theo mã số CPC của Liên hợp quốc đã đề cập đến trong GATS/WTO thì được gọi là “dịch vụ”. Sự chấp nhận việc phân loại dịch vụ theo mã số CPC cũng có thể dẫn đến hàng loạt vấn đề cần bàn trong lý luận về kinh tế ngành, lao động, quản lý nhân lực... ở nước ta. Khái niệm về thương mại dịch vụ cũng đã được định rõ trong Hiệp định GATS/WTO mà các nước thành viên WTO phải tuân theo.

3.2. Về đối xử Tối huệ quốc và không phân biệt đối xử.

- Trước tiên, đó là quy chế về "Đãi ngộ tối huệ quốc" (MFN) và “bảo lưu MFN”. Trong thực tế, điều khoản MFN là điều khoản khá quan trọng. Theo quy định MFN, nếu Việt Nam ký kết một điều ước quốc tế thương mại song phương với các nước khác và nếu các bên liên quan không đạt được sự thoả thuận nào khác (bảo lưu MFN), thì các thành viên khác của WTO (sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO) sẽ được hưởng tại Việt Nam các nhượng bộ mà Việt Nam dành cho bên ký kết điều ước song phương đó.

Theo Danh mục các ngoại lệ về MFN đính kèm Biểu cam kết về dịch vụ, Việt Nam đã đạt được khá nhiều bảo lưu MFN trong các khoảng thời gian khác nhau, có loại 05 năm, có loại 10 năm và có loại thời hạn không được xác định.

Như vậy, các vấn đề khác có thể chịu sự tác động của quy chế MFN. Mặc dù trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đã có quy định về MFN, nhưng lại chưa định rõ nội hàm của khái niệm đó, cũng như chưa xác định rõ các trường hợp áp dụng MFN đối với các nước thứ ba khi họ yêu cầu được hưởng MFN.

-Thứ hai, đó là quan hệ giữa "Đãi ngộ tối huệ quốc" (MFN) và Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn của Hoa Kỳ ( PNTR). Vấn đề PNTR được bàn đến khá nhiều trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Hoa Kỳ có thể có thông báo với WTO về việc Hoa Kỳ áp dụng quy định “ Không áp dụng” trong quan hệ đối với Việt Nam theo quy định tại Điều XIII Hiệp định Marrakesh. Như vậy, theo quy định của Điều XIII Hiệp định Marrakesh, Việt Nam có quyền tuyên bố không áp dụng quy chế MFN trong quan hệ đối với các hàng hoá, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các khoản đầu tư và các hoạt động thương mại khác của Hoa Kỳ tại Việt Nam theo Bộ hồ sơ cam kết của Việt Nam với WTO. Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa kỳ được giới hạn trong khuôn khổ của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tới thời điểm này, Hoa Kỳ đã thông qua Quy chế PNTR với Việt Nam, do vậy, câu chuyện này không còn đặt ra nữa.

3.3. Về đối xử quốc gia (NT) và các vấn đề liên quan

So sánh các quy định của WTO về NT với các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan có thể thấy:

- Thứ nhất, pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có quy định về NT ở một mức độ rất chung trong một văn bản Pháp lệnh công bố năm 2002 và cũng chưa có văn bản nào giải thích về khái niệm đó, về nội hàm của nó cũng như cơ chế vận hành, áp dụng NT.

- Thứ hai, về thuế quan, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí nội địa và các khoản thu khác, qua rà soát các văn bản liên quan cho thấy có không ít vấn đề cần bàn. Quan niệm về thuế quan ở nước ta chưa rõ ràng, đôi khi được hiểu như là thuế nhập khẩu. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về việc xác định và cách thức áp dụng thuế chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ theo quy định của WTO.

- Thứ ba, về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu gắn với phân phối của tổ chức, cá nhân không có hiện diện thương mại tại Việt Nam là vấn đề mới cần nghiên cứu. Theo quy định hiện hành, thì các doanh nghiệp có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu và phân phối theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy vậy, đến nay ta chưa có quy định về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu gắn với phân phối của tổ chức, cá nhân không có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Hơn nữa, trong thực tiễn thương mại quốc tế, việc áp dụng quy định này tại Việt Nam có thể sẽ phát sinh không ít vấn đề phức tạp cần tính toán.

- Thứ tư, đó là quy chế vệ sinh dịch tễ động thực vật, các biện pháp kỹ thuật và chất lượng hàng hóa. Qua rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cho thấy, Việt Nam cần phải nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc sử dụng các phương tiện pháp lý này trong thương mại quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Canada... cũng như kinh nghiệm của Trung Quốc và các nước trong khu vực. Pháp luật về lĩnh vực này của nước ta đã có nhiều quy định tốt, nhưng cũng cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt là các quy định về điều kiện chung cho các cơ sở Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam sản xuất các sản phẩm có tính nguy hiểm cao đối với sức khoẻ con người, đặc biệt là các cơ sở sản xuất các thiết bị phóng xạ, dược phẩm, hoá chất, các sản phẩm có biến đổi gien, có liên quan đến di truyền... được lưu dùng tại Việt Nam; các quy định về vệ sinh dịch tễ áp dụng đối với hàng hoá nước ngoài nhập vào Việt Nam trên cơ sở quy chuẩn quốc tế, các quy định về an toàn thực phẩm trên cơ sở các quy chuẩn tối thiểu của quốc tế v.v..

- Thứ năm, các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường thương mại dịch vụ trong pháp luật Việt Nam cơ bản chưa được xây dựng trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phân loại dịch vụ theo CPC của Liên hợp quốc, chế độ đãi ngộ tối thiểu (MFN, NT) theo luật quốc tế, phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS/WTO, các hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ, về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hay tài sản nhu cầu đầu vào, tổng số các giao dịch dịch vụ hoặc tổng số lượng đầu ra, tổng số thể nhân có thể được thuê trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hay một nhà cung cấp dịch vụ cụ thể theo GATS/WTO. Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có quy định pháp luật nào về các nguyên tắc nhằm xác định các lộ trình mở cửa trong thương maị dịch vụ quốc tế của mình theo các cam kết cụ thể với WTO ở Biểu cam kết dịch vụ. Chính vì vậy, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này trở nên không rõ ràng, khó xác định trước các rủi ro có thể phát sinh cho các bên trong thương mại dịch vụ. Đó cũng là vấn đề cần tính toán khi hoàn thiện pháp luật thương mại của Việt Nam trong thời gian tới, nhằm thực thi các cam kết của Việt Nam với WTO.

3.4. Về các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

- Thứ nhất, đó là vấn đề tham gia các điều ước quốc tế được liệt kê trong Hiệp định TRIPS/WTO. Trong số các điều ước quốc tế đó, đến nay Việt Nam đã gia nhập Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Bernes về các tác phẩm văn học, nghệ thuật và một số điều ước quốc tế khác liên quan. Các quy định của Phần VI Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ của nước ta về cơ bản phù hợp với các quy định của các điều ước nói trên. Tuy vậy, WTO đặt ra nghĩa vụ phải thực hiện "các quy định có nội dung kinh tế” của các điều ước quốc tế đó. Trong khi đó Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật của Việt Nam chưa định rõ các quyền sở hữu trí tuệ nào là "quyền kinh tế", các quyền nào là "quyền tinh thần", mà chỉ mới quy định "quyền tài sản" và "quyền nhân thân". Vả lại, không phải lúc nào "quyền tài sản" cũng đồng nhất với quyền kinh tế hoặc đồng nhất với "các khía cạnh thương mại" của quyền sở hữu trí tuệ. Kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này cho thấy, việc thực thi các quy định nói trên của WTO không đơn giản nếu không có sự phân định rõ ràng các vấn đề nói trên.

- Thứ hai, đó là vấn đề thực hiện việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật quốc gia phù hợp với TRIPS/WTO. So sánh các quy định của TRIPS/WTO với pháp luật hiện hành Việt Nam cho thấy, pháp luật Việt Nam quy định các đương sự đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để toà án xem xét giải quyết vấn đề, không có quy định cụ thể nghĩa vụ riêng của bị đơn phải chứng minh theo các tiêu chí được ghi rõ trong các hiệp định quốc tế. Các quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến việc xác định tội phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong các Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính[1] và các quy định khác của pháp luật nước ta chưa phù hợp và đủ chi tiết để thực thi có hiệu quả các yêu cầu của TRIPS/WTO.

3.5. Về các quy định liên quan đến pháp luật về đầu tư

3.5.1 Về một số quan niệm

Qua rà soát, đối chiếu các quy định của WTO với các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này có thể thấy:

- Thứ nhất, về quan niệm “đầu tư”, Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam chủ yếu điều chỉnh các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài; việc đầu tư tài chính và đầu tư dưới hình thức cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ, các quyền lợi đối với khoản nợ dưới các hình thức khác, các quyền thế chấp, cầm cố, lưu giữ tài sản... về cơ bản đã được quy định khá tổng quát trong Luật Đầu tư áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài dưới hình thức đầu tư gián tiếp, nhưng các quy định cụ thể về nó vẫn đang trong quá trình nghiên cứu cụ thể hoá.

- Thứ hai, về quan niệm “doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam quy định khái niệm doanh nghiệp có giới hạn, không được mở rộng cho bất kỳ thực thể nào được thành lập hoặc tổ chức theo pháp luật áp dụng nhằm bất kỳ mục đích hoạt động nào. Trong khi đó, WTO lại quan niệm doanh nghiệp dưới một góc độ khá rộng.

- Thứ ba, về quan niệm “trợ cấp”, Luật Đầu tư năm 2005 và một số luật liên quan của nước ta có quy định các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi khác nhau của nhà nước để thu hút đầu tư tiền vốn, công nghệ… vào phát triển một số mặt hàng, đặc biệt là các hàng xuất khẩu hoặc lĩnh vực kinh tế hướng xuất khẩu. WTO quy định các biện pháp đó có thể là các biện pháp trợ cấp bị cấm.

3.5.2 Về các nguyên tắc quản lý trong doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp năm 2005 có quy định về nguyên tắc đa số 65% hoặc 76% trong giải quyết một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. Vấn đề này đã gây sự chú ý của một số thành viên WTO và đã được đưa ra Ban công tác với tính cách là vấn đề Việt Nam cần xem xét lại cho phù hợp với quy định của WTO.

3.6. Các quy định liên định liên quan đến tính minh bạch, công khai, giải quyết các tranh chấp thương mại theo WTO

3.6.1 Về các quy định liên định liên quan đến tính minh bạch, công khai

- Thứ nhất, pháp luật Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng được nhiều yêu cầu về vấn đề minh bạch, công khai pháp luật. Các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã giải quyết được cơ bản các vấn đề liên quan. Tuy vậy, việc thực thi các luật, việc quy định các thủ tục hành chính áp dụng chung và điều hành hoạt động thương mại ở các cấp, nhất là các cấp địa phương, vẫn cần thiết được tiếp tục cải tiến theo hướng ngày càng rõ ràng và thống nhất hơn. Báo cáo của Ban công tác yêu cầu Việt Nam phải bảo đảm thực hiện các quy định của WTO và các cam kết của Việt Nam về quy chế thành viên WTO thống nhất trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

- Thứ hai, Việt Nam chưa có một tạp chí, trang web, công báo hoặc một cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm thống nhất đăng tải tất cả các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương, cũng như các văn bản, biện pháp hành chính áp dụng chung liên quan đến các vấn đề của WTO. Các văn bản dự thảo về pháp luật và chính sách thương mại phải được đăng tải công khai trong một thời gian hợp lý, không ít hơn 60 ngày để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Các quy phạm pháp luật của các cơ quan trung ương được đăng trên Công báo hiện nay là khá tốt, tuy vậy, các văn bản dự thảo của các văn bản quy phạm pháp luật chưa phải lúc nào cũng được đăng tải kịp thời hoặc có sẵn cho công chúng với thời hạn hợp lý như đã nêu trên. Việc thực thi các quy định này của WTO trong thực tế không đơn giản, cần tham khảo kinh nghiệm các nước để có giải pháp lập pháp thích hợp với hoàn cảnh nước ta.

3.6.2 Về các quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại,

- Thứ nhất, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cơ bản đáp ứng các yêu cầu của WTO. Tuy vậy, cũng cần tính toán để sớm tham gia một số điều ước quốc tế liên quan, chẳng hạn như Công ước ICSID, các Quy tắc và Luật mẫu về Trọng tài của UNCITRAL…

- Thứ hai, một yêu cầu lớn trong thực thi các quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là vấn đề tổ chức, hoạt động của các cơ quan tài phán quốc gia, mà trước tiên là đội ngũ thẩm phán và các luật sư liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế. Việc nâng cao trình độ chuyên môn, mà trước tiên là trình độ pháp luật quốc tế (công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, pháp luật thương mại quốc tế) và ngoại ngữ (tiếng Anh) là vấn đề cấp bách cần có giải pháp tổ chức thích hợp.

4. Kết luận

Qua nghiên cứu bước đầu chúng tôi nhận thấy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta có thể sẽ gặp phải những thách thức trong hoạt động pháp luật như sau:

- Thứ nhất, Việt Nam phải nghiêm chỉnh chấp hành các luật lệ của WTO và các cam kết của Việt Nam với WTO.

- Thứ hai, phải nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về bản chất, tổ chức, hoạt động, luật lệ của WTO, tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân về việc Việt Nam gia nhập WTO và các cam kết của Việt Nam với WTO để thực hiện đúng yêu cầu.

- Thứ ba, đẩy mạnh việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt về WTO và hội nhập kinh tế quốc tế.

- Thứ tư, xử lý tốt các vấn đề tài chính - tín dụng và nguồn thu ngân sách.

- Thứ năm, xử lý thoả đáng vấn đề bảo hộ các ngành kinh tế trong nước.

- Thứ sáu, phải xây dựng môi trường thể chế và hệ thống pháp luật phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.


Theo Hoàng Phước Hiệp, TC NCLP

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất