Nghĩ từ câu chuyện bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá
21:57' 27/6/2007

Cho dù trong sự thường tình, người á Đông kiêng kỵ bàn luận về tranh chấp khi đang có những niềm vui lớn, nhất là niềm vui về sự kiện Việt Nam gia nhập WTO - thành quả mỹ mãn của 11 năm đàm phán đầy khó khăn. Song, những dấu tích của các vụ kiện cá tra, cá ba sa, tôm hay vụ kiện về giày da mà các doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang là bị đơn còn đó như cảnh báo rằng, trong triển vọng tươi đẹp của những cơ hội cho sự phát triển kinh tế, luôn có đầy thách thức mà những tranh chấp về bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là các ví dụ điển hình.



Cho dù trong sự thường tình, người á Đông kiêng kỵ bàn luận về tranh chấp khi đang có những niềm vui lớn, nhất là niềm vui về sự kiện Việt Nam gia nhập WTO - thành quả mỹ mãn của 11 năm đàm phán đầy khó khăn. Song, những dấu tích của các vụ kiện cá tra, cá ba sa, tôm hay vụ kiện về giày da mà các doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang là bị đơn còn đó như cảnh báo rằng, trong triển vọng tươi đẹp của những cơ hội cho sự phát triển kinh tế, luôn có đầy thách thức mà những tranh chấp về bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là các ví dụ điển hình. Hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế đã được bàn luận từ vài trăm năm trước; việc áp dụng các biện pháp chống lại chúng cũng được con người thực hiện trên dưới một thế kỷ. Còn ở Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu dường như mới chỉ được bàn luận ở đâu đó trong vài vụ việc đơn lẻ rồi lặng lẽ đi vào quên lãng.

Có thể nói rằng, chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc xử lý các vụ việc về bán phá giá của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam, nhưng lại phải tham gia vào khá nhiều vụ kiện chống bán phá giá với tư cách là bị đơn ở nhiều khu vực thị trường khác nhau, với các chủng loại hàng hoá khác nhau, từ nông sản đến sản phẩm công nghiệp. Những kinh nghiệm có được từ các vụ kiện bất đắc dĩ này đem đến một vài tác dụng tích cực về nhận thức cho doanh nhân, đồng thời cũng là sự đánh giá không mấy vui vẻ về thực trạng pháp luật, thói quen kinh doanh trên thị trường Việt Nam. Với tinh thần lạc quan, là bị đơn, ít nhất chúng ta cũng có được kinh nghiệm về tố tụng của một vụ việc chống bán phá giá để xây dựng pháp luật trong lĩnh vực này cho phù hợp với khung khổ pháp lý chung của WTO. Các vụ việc mà hàng hoá của Việt Nam bị kiện bán phá giá từ Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc… là cơ hội để cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nhân biết đến và vận dụng các biện pháp bảo hộ được thừa nhận trong thương mại quốc tế, thay cho biện pháp hạn ngạch hoặc thuế quan truyền thống đang dần bị dỡ bỏ theo các cam kết khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần chúng ta giải quyết, cả về pháp luật lẫn nhận thức thực tiễn, điển hình là ba vấn đề:

Một là, đạo lý nho học mà người á Đông chịu ảnh hưởng cho đến hôm nay vẫn dạy ngã bất dục nhân chi gia chư ngã dã, ngô diệc dục vô gia chư nhân (điều gì mà ta không muốn người đưa đến cho mình, thì cũng đừng đưa điều ấy đến cho người), song, trong các quan hệ thương mại quốc tế, triết lý này có vẻ không phù hợp, bởi việc chúng ta không muốn làm bị đơn không có nghĩa là chúng ta không chuẩn bị cho mình tư cách của một bị đơn, để chờ đợi sự cao thượng và chính nghĩa của các nước đối tác. Một khi lợi nhuận được coi là chuẩn mực của sự thành bại, thì mọi khả năng xâm hại đến nó đều có thể bị chống lại với đủ loại lý do chính đáng hoặc không. Vụ việc cá tra, cá ba sa của Việt Nam là điển hình. Với sự từng trải, các nước phát triển đã có được khung pháp lý hoàn chỉnh và đặt ra các chuẩn mực chi tiết trong tố tụng về chống bán phá giá. Sự trắng tay trong kinh nghiệm và non nớt về pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề này đã làm hạn chế khả năng sử dụng biện pháp chống bán phá giá để bảo hộ sản xuất nội địa. Có thể khẳng định rằng, pháp luật của chúng ta còn quá nhiều hạn chế. Theo đó, Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành mới chỉ nhận dạng cơ bản thế nào là bán phá giá, các biện pháp chống bán phá giá và quy định những bước cơ bản trong tố tụng vụ việc chống bán phá giá. Với những nội dung đó, việc điều tra, xử lý vụ việc sẽ khó có thể tiến hành đầy đủ và hiệu quả, bởi chắc chắn, từ nó sẽ phát sinh những tranh cãi về học lý và thực tiễn trong từng vụ việc cụ thể liên quan đến các chuẩn mực xác định sự vi phạm, mức độ xử lý. Vì thế, dường như sứ mệnh của Pháp lệnh này chỉ là giúp cho cánh cửa WTO mở ra, mà khó có thể sử dụng để bảo vệ cho doanh nhân Việt Nam trên con đường thênh thang nhưng đầy chông gai đang chờ đợi sau cánh cửa đó.

Hai là, cho đến nay, chúng ta chưa từng áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu, nhưng điều đó không phải là cơ sở để kết luận rằng, chưa từng có hiện tượng bán phá giá trên thị trường Việt Nam. Những lao đao của các doanh nghiệp sản xuất thép của Việt Nam trước sức cạnh tranh về giá của thép xuất xứ từ Trung Quốc vẫn chỉ là một nghi vấn cho một vụ việc bán phá giá. Sự sôi động của báo giới và bức xúc của doanh nhân tưởng như đã làm khởi động một vụ việc điều tra về bán phá giá đầu tiên của Việt Nam với tư cách là nguyên đơn, song đáng tiếc thay, chúng ta lại đi vào tranh cãi có hay không việc bán phá giá của thép Trung Quốc và tìm kiếm căn cứ để kết luận, trong khi cơ quan có thẩm quyền chưa có bất cứ động thái pháp lý nào để điều tra; các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa tiến hành thủ tục khiếu nại cần thiết theo pháp luật, cho dù có những nghi ngờ về sự bất thường của giá thép nhập khẩu và thiệt hại mà doanh nghiệp Việt Nam đang phải gánh chịu. Khi là bị đơn trong các vụ việc chống bán phá giá từ các nước, chúng ta có được hai bài học kinh nghiệm lớn là: thứ nhất, vụ việc có thể được khởi động chỉ từ sự nghi ngờ của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sản phẩm tương tự của quốc gia nhập khẩu. Việc kết luận có hay không có hành vi bán phá giá là nhiệm vụ của các cơ quan tố tụng mà không là cơ sở để bắt đầu vụ việc; thứ hai, luôn có sự liên kết của các doanh nghiệp nội địa trong các hiệp hội như hiệp hội cá da trơn, hiệp hội giày da… để có được tư cách đại diện cho ngành sản xuất khi tham gia tố tụng và tạo sức mạnh chung gây áp lực cho công quyền khi xử lý vụ việc. Với hơn 90% doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên thị trường Việt Nam có chỉ số tập trung thấp (trừ những ngành có tồn tại độc quyền nhà nước), mức độ phân tán nguồn lực và phân hoá lợi ích cao. Trong điều kiện đó, khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp sẽ là thấp. Cho đến nay, chúng ta đã có được nhiều làng nghề, nhiều hiệp hội ngành nghề, song tất cả vẫn chỉ là sự chuẩn bị mà chưa chứng minh sức mạnh của tập thể bằng hành động cụ thể. Thế cho nên, triết lý về trí, dũng của người quân tử dường như vẫn còn nguyên giá trị đối với doanh nhân để rèn luyện bãn lĩnh và tận dụng mọi năng lực khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế, kể cả tham gia vào các tranh chấp, dù với tư cách là nguyên đơn hay bị đơn.

Ba là, dù đã bước lên vị thế mới trong thương mại quốc tế, song phải khách quan mà khẳng định rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế Việt Nam còn yếu, vị trí kinh tế của chúng ta chưa mạnh khi còn đứng trong hàng ngũ của những nước nghèo. Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc chống bán phá giá, bởi một vấn đề tế nhị là sự ràng buộc của nhiều lợi ích đã làm cho mỗi quốc gia phải cân nhắc hiệu quả thực tế mà họ sẽ có được hoặc mất đi, từ những vụ việc cụ thể. Với tư cách là biện pháp bảo hộ cho nền sản xuất nội địa trước sức tàn phá của mức giá bán thấp hơn giá thông thường của sản phẩm, các biện pháp chống bán phá giá tạo ra sự đối đầu giữa ngành sản xuất sản phẩm tương tự nhau của hai quốc gia có giao dịch thương mại với nhau. Vì thế, khởi sự một vụ việc chống bán phá giá đôi khi không chỉ gây ra tranh chấp giữa các doanh nghiệp với nhau, mà còn là sự xung đột lợi ích giữa các quốc gia, các vùng kinh tế. Cuộc tranh chấp kéo dài về phá giá thép giữa Hoa Kỳ và EU là một điển hình. ở một chừng mực nhất định, vị thế thương mại của quốc gia có ảnh hưởng đáng kể đến phán quyết về việc có áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay không. Thực tế cho thấy, các quốc gia đang phát triển khó có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với các sản phẩm nhập khẩu chiến lược từ các nước phát triển, bởi nếu áp dụng, họ có thể phải trả giá bằng sự cắt giảm viện trợ, cắt giảm các khoản vay… Vì lẽ đó, bên cạnh việc cân nhắc đến khả năng áp dụng pháp luật chống bán phá giá trong những vụ việc cụ thể, nhà nước và doanh nhân Việt Nam cần thiết phải có ý thức nâng cao hơn nữa vị thế và năng lực cạnh tranh của mình trong các quan hệ thương mại quốc tế.

Theo ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, TC NCLP

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất