Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Cơ hội và thách thức trong WTO
0:16' 19/9/2007
Tham gia WTO, bên cạnh những cơ hội lý tưởng xuất phát từ những lợi thế riêng để phát triển kinh tế xã hội, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng đang đứng trước những thách thức và nguy cơ lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp cấp bách và hữu hiệu để khẳng định là vùng kinh tế động lực của cả nước trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa.

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, gồm 8 tỉnh thành (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang) chiếm 9,2% diện tích, 17,7% dân số, 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước... Tỷ trọng đóng góp của vùng trong GDP hiện chiếm đến 35-36%. Trong 5 năm (2001-2005), tỷ trọng vốn đầu tư của vùng này so với cả nước đã chiếm 31,4%. Nếu tính riêng nguồn vốn FDI, thì trong suốt thời kỳ 1988-2005, toàn vùng đã thu hút 4.650 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký gần 37 tỉ USD; chiếm 65% tổng số dự án và 56% tổng vốn đăng ký của cả nước; trong đó nổi bật là các địa phương như: TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Hiện nay, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 66 khu công nghiệp và khu chế xuất (trong đó có 46 khu đã đi vào hoạt động); chiếm gần 71% tổng diện tích khu công nghiệp của 3 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây cũng là vùng có tỷ lệ lấp đầy khá cao, đạt khoảng 73% diện tích khu công nghiệp.

Tham gia WTO, cơ hội mở rộng xuất khẩu ra thị trường thế giới sẽ rất lớn đối với DN Việt Nam nói chung và DN trên địa bàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của địa bàn này trong 15 năm tới có thể đạt mức bình quân từ 12-13%/năm (giai đoạn 2001-2005 đạt mức bình quân 11,76%/năm) và kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng mức bình quân hàng năm trên 20%.

Việc mở cửa thị trường theo lộ trình đã cam kết đối với WTO, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài sẽ được khai thông mạnh mẽ hơn vào địa bàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt là đối với TP.HCM - trung tâm tài chính của vùng. Mặt khác, chất lượng của nguồn vốn FDI cũng sẽ thay đổi theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cùng với nguồn vốn FDI, theo lộ trình mở rộng quy mô, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn và cổ phiếu đối với các DN trên thị trường tài chính sẽ tạo động lực rất mạnh đối với dòng đầu tư tài chính của nước ngoài. Hiệu ứng của đầu tư tài chính đối với thị trường vốn trung và dài hạn sẽ làm thay đổi theo hướng tích cực vai trò của thị trường vốn của nước ta nói chung và đối với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng.

Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu, nhiều cơ hội mở ra thì song song đó cũng phải đối mặt với thách thức, nguy cơ. Đó là điều kiện về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng giao thông bất cập so với nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và hiệu quả. Ngoài ra nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao sức mạnh cạnh tranh cũng là thách thức lớn. Việc mở cửa thị trường dịch vụ, nhất là các loại dịch vụ liên quan đến thị trường tài chính; dịch vụ giá trị gia tăng của lĩnh vực viễn thông và thương mại nội địa do phần lớn các DN Việt Nam trong vùng chỉ tham gia vào chuỗi giá trị, thuộc công đoạn có giá trị gia tăng thấp, chưa làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao làm cho mức phụ thuộc của DN Việt Nam đối với các tập đoàn kinh tế nước ngoài sẽ rất lớn. Cùng với 3 thách thức nêu trên, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đang tạo ra nguy cơ rất lớn đối với sự xâm hại môi trường của toàn vùng.
Thực tế hiện nay, mỗi địa phương của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đều đã và đang xây dựng chương trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đều chú trọng đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cạnh tranh; phát triển nguồn nhân lực; triển khai các biện pháp hỗ trợ DN trong khuôn khổ WTO cho phép. Tuy nhiên, những nỗ lực của từng địa phương chỉ có thể mang lại hiệu quả, khi có cơ chế phối hợp phát triển chung của toàn vùng nhằm phát huy lợi thế chung của cả địa bàn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

Theo đó, cần quy hoạch xây dựng một hành lang công nghiệp của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gắn với trung tâm dịch vụ TP.HCM. Cần có sự phối hợp và ưu tiên đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng khung của vùng. Quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa của vùng. Phối hợp giữa các địa phương trong vấn đề bảo vệ môi trường. Đặc biệt là cơ chế phối hợp chung của chính quyền các địa phương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, nhằm hỗ trợ DN nâng cao sức cạnh tranh. 

Theo Báo điện tử Vietnam Economic News Online
Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất