Thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt nam: Khó vì các công chức ít được đào tạo về SHTT
9:16' 23/9/2007
GS.TS Lê Hồng Hạnh (người ngồi bên trái) đang trình bày tham luận tại Hội thảo
Trong chuyến thăm và giao lưu lần thứ 3 giữa Hội Luật gia Việt Nam và Hội Luật sư Seoul (Seoul Bar), Hội thảo giao lưu về chủ đề Pháp luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) diễn ra ngày 10.9 vừa qua được cả Hội Luật gia Việt Nam và Seoul Bar rất quan tâm và cùng rút ra được những kinh nghiệm quý báu, những khó khăn, thách thức từ thực tiễn thi hành pháp luật SHTT ở Việt Nam cũng như ở Hàn Quốc. Theo đánh giá của GS.TSKH Đào Trí úc - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Luật gia VN thì đây là một chủ đề đã được lựa chọn rất đúng trọng tâm, phù hợp với đặc điểm phát triển của nền kinh tế tri thức đang được quan tâm ở mỗi quốc gia và trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Trong số báo này, ĐS&PL xin trân trọng giới thiệu một số nội dung chính trong bài tham luận tại Hội thảo của Đoàn Hội Luật gia VN dưới sự trình bày của GS.TS Lê Hồng Hạnh.

Đặc tính pháp luật SHTT ở Việt Nam

Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh, Việt Nam đang tiến hành chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Vì vậy, sở hữu trí tuệ và pháp luật SHTT đang được chú trọng phát triển và hoàn thiện nhằm bảo hộ các hoạt động sáng tạo, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sáng tạo ra những giá trị khoa học, công nghệ; tạo môi trường pháp lý bình đẳng cho hoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể của nền kinh tế; sẽ góp phần tạo môi trường pháp lý hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt trong thời đại của toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại như hiện nay; thực hiện các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và mới đây là trong khuôn khổ WTO trong đó có các cam kết về SHTT và bảo hộ quyền SHTT...

Cũng theo GS.TS Lê Hồng Hạnh, pháp luật SHTT Việt Nam có những bước phát triển quan trọng trong thập kỷ vừa qua. Từ những qui định trong các Nghị định của Chính phủ điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến một vài đối tượng sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu hàng hoá, sáng kiến hợp lý hoá sản xuất, kiểu dáng công nghiệp, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay được phát triển thành một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh và có mối quan hệ tương hỗ với các cấu thành khác của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành. SHTT liên quan chặt chẽ đối với pháp luật dân sự (bao gồm cả tố tụng dân sự), pháp luật thương mại (bao gồm cả thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư), pháp luật hành chính (bao gồm cả tố tụng hành chính), pháp luật hình sự (bao gồm cả tố tụng hình sự). GS.TS Lê Hồng Hạnh cho rằng, pháp luật SHTT liên quan chặt chẽ nhất với pháp luật thương mại quốc tế vì hầu hết trong các hoạt động thương mại và đầu tư đều có sự hiện diện của các khía cạnh khác nhau của sở hữu trí tuệ. Pháp luật thương mại Việt Nam với các văn bản luật chủ yếu ban hành mới đây gồm Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Đầu tư 2005 qui định khá chi tiết các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ. Ví dụ, Luật Đầu tư 2005 có các qui định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các nhà đầu tư trong các Điều 9, 9 và 42. Luật Doanh nghiệp 2005 cũng có các qui định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong việc thành lập và tổ chức lại doanh nghiệp.

Đặc biệt, Luật Thương mại 2005 có rất nhiều qui định về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại ở các Điều 46, 108, 109, 123, 134, 181, 287, 289 và 320. Lý do là ở Việt Nam tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhất là sở hữu công nghiệp diễn ra khá nghiêm trọng và Việt Nam đang phải thực hiện các qui định của WTO có liên quan. Báo cáo đề dẫn của các chuyên gia cho biết, pháp luật chuyên ngành về SHTT hiện hành của Việt Nam bao gồm các văn bản pháp luật chủ yếu sau: Luật Sở hữu trí tuệ ban hành năm 2005 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006; Nghị định 103/2006/CP-NĐ ngày 22 tháng 9 năm 2006; Nghị định 104/2006/CP-NĐ ngày 22 tháng 9 năm 2006; Nghị định 106/2006/CP-NĐ ngày 22 tháng 9 năm 2006; các công ước quốc tế và các Hiệp định của WTO về SHTT.

Nguyên tắc áp dụng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng như trong các lĩnh vực khác là khi có sự khác nhau giữa các qui định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các qui định pháp luật có liên quan thì áp dụng các qui định của pháp luật về SHTT. Khi giữa pháp luật SHTT của Việt Nam với các qui định của Điều ước quốc tế hoặc Hiệp định quốc tế về SHTT mà Việt Nam là thành viên thì ưu tiên áp dụng các qui định của điều ước quốc tế.

Trước năm 1995, pháp luật SHTT hầu như không được chú ý. Chỉ có một vài văn bản pháp luật dưới dạng Nghị định của Chính phủ về sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Các văn bản này chủ yếu chỉ qui định các vấn đề quản lý nhà nước và ít nội dung về bảo vệ quyền SHTT cho những người sáng tạo. Từ năm 1995-2005 pháp luật SHTT có những bước tiến hơn. Nhiều qui định về SHTT và bảo hộ SHTT được đưa vào Bộ luật Dân sự ban hành năm 1995. Tuy nhiên, các qui định của BLDS về SHTT chỉ thiên về khía cạnh dân sự, ít chú ý đến khía cạnh thương mại của SHTT. Hơn nữa, nhiều đối tượng như giống cây trồng, thiết kế mạch tích hợp, chỉ dẫn địa lý v.v... chưa được qui định.

Bộ luật Dân sự 2005 và Luật SHTT 2006 đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật về SHTT ở Việt Nam. Để thực hiện Luật SHTT 2006, Chính phủ đã ban hành các nghị định hướng dẫn. Tất cả các văn bản này đã tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển hoạt động khoa học và công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với những sản phẩm của những hoạt động sáng tạo đó. Việt Nam gia nhập WTO và cam kết thực hiện TRIPS. Bên cạnh đó Việt Nam đã ký công ước Bern về quyền tác giả vào năm 2006. Đây là công ước quan trọng cuối cùng về SHTT mà Việt Nam đã ký để hoàn tất việc chuẩn bị gia nhập WTO vào cuối 2006.

Vạn sự khởi đầu nan

Có thể nói, Nhà nước Việt Nam đã hoàn thiện đáng kể nền tảng pháp lý của việc bảo hộ quyền SHTT. Với việc ban hành Luật SHTT năm 2005 và các văn bản hướng dẫn, với sự tồn tại của Luật Đầu tư 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong việc hoàn thiện pháp luật SHTT, hài hoà hoá được về cơ bản các qui định của pháp luật quốc gia với những qui định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là các qui định trong các hiệp định của WTO. Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng để bảo hộ có hiệu quả quyền SHTT, Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức như: Pháp luật SHTT Việt Nam được phát triển thực sự trong thời kỳ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những yêu cầu của nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự hoàn thiện các qui định pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và tiếp đó là các qui định về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý. Sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin và yêu cầu bảo hộ các bố trí mạch tích hợp, các phần mềm máy tính cũng dẫn tới sự hoàn thiện đáng kể pháp luật SHTT; Động lực thúc đẩy mạnh mẽ pháp luật về SHTT Việt Nam là Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ ký năm 2001 và việc Việt Nam đàm phán gia nhập WTO một cách tích cực trong thập kỷ vừa qua mà kết quả là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào đầu năm 2007. Việc Việt Nam thực hiện các cam kết theo Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, đặc biệt là những cam kết liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ đã buộc Việt Nam hoàn thiện rất nhiều các qui định của mình về SHTT. Mặt khác, trước các yêu cầu của WTO về việc hoàn thiện các định chế pháp luật để đảm bảo tương thích với các qui định trong các hiệp định của WTO, Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản mới mà nội dung thể hiện các qui định của WTO. Luật SHTT được ban hành năm 2006 ngay trước thềm Việt Nam gia nhập WTO. Do ban hành với mục đích tạo nền tảng cho việc hội nhập quốc tế nên các qui định của pháp luật Việt Nam về SHTT có độ tương thích cao với hiệp định TRIPS và một số Công ước quốc tế khác về SHTT. Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế chủ yếu và quan trọng nhất về SHTT. Chính vì vậy, cùng với các công ước này, hệ thống pháp luật quốc gia đã tạo nên một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ SHTT ở Việt Nam.

Tuy nhiên, khó khăn cơ bản của Việt Nam trong bảo hộ SHTT là việc thực thi pháp luật. Về áp dụng luật, điều khó khăn chính là ở tính đa dạng về nguồn luật ở Việt Nam. Quốc hội ban hành Luật, Nghị quyết, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị. Những văn bản này đều là nguồn luật. Do việc áp dụng luật phụ thuộc rất nhiều sự giải thích pháp luật từ phía Chính phủ và việc giải thích nhiều qui định của Chính phủ lại phụ thuộc và sự giải thích, hướng dẫn của các Bộ và chính quyền địa phương nên việc áp dụng pháp luật trở nên cồng kềnh và thiếu hiệu quả. Pháp luật về SHTT cũng ở trong tình trạng như vậy.

Khó khăn lớn khác chính là những hạn chế về nguồn nhân lực. Phần lớn các công chức, bao gồm cả thẩm phán, điều tra viên, ít được đào tạo về sở hữu trí tuệ. Việc nhận diện các vi phạm pháp luật về SHTT là một khó khăn lớn đối với đa số công chức nhà nước. Bên cạnh đó, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ thực hiện việc bảo hộ quyền SHTT chưa được tổ chức một cách khoa học. Việc quản lý nhà nước về SHTT được chia sẻ giữa nhiều bộ, ngành chức năng khác nhau. Sự phân tán như vậy có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả thực thi pháp luật SHTT. Tại thời điểm hiện tại, nhận thức của doanh nghiệp cũng như một bộ phận lớn của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ và việc bảo hộ quyền SHTT chưa cao. Chính vì vậy, sự vi phạm quyền SHTT diễn ra tương đối nghiêm trọng trong phạm vi cả nước, nhất là ở các thành phố lớn. Tình trạng buôn bán hàng giả, hàng nhái nhãn mác đang là một trong những thách thức lớn đối với việc bảo hộ quyền SHTT.

Theo Báo Đời sống và Pháp luật

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất