Việt Nam gia nhập WTO tỏa sức nóng lên Trung Quốc
14:1' 27/10/2007



 

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không lâu sau sinh nhật lần thứ 5 sự kiện Trung Quốc trở thành thành viên WTO.

 

Cho dù Trung Quốc có tiếng là miền đất với vô hạn các cơ hội đầu tư, nhưng cơ hội đầu tư ở Việt Nam được đánh giá là hứa hẹn không kém. Thêm vào đó, đầu tư vào Việt Nam lại tránh được một số thách thức mà Trung Quốc đang phải đối mặt, cụ thể là, khả năng dễ tổn thương quá mức của nền kinh tế Trung Quốc khi bị tác động bởi sự lên xuống thất thường của kinh tế toàn cầu và khu vực tài chính đang phải mang gánh nặng rất lớn của những khoản cho vay không hiệu quả.

 

Với các nhà đầu tư nước ngoài, môi trường đầu tư tại Việt Nam có nhiều điểm thuận lợi giống Trung Quốc. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2006 được dự báo là 8,2%, trong khi Trung Quốc là 10,5%. Việt Nam có một nền kinh tế mở vững vàng cùng với việc gia nhập WTO, nguồn nhân công giá rẻ và có trình độ tương đối dồi dào.

 

Nhưng không giống như Trung Quốc, Việt Nam tương đối tách biệt với  biến động kinh tế toàn cầu và không phải chịu gánh nặng của khoản nợ lớn trong khu vực tài chính

 

Chỉ có khoảng 3% trong số 15% các khoản cho vay của Việt Nam được coi là không hiệu quả. Ngân hàng Trung ương Việt Nam chính thức ước lượng các khoản nợ xấu vào khoảng 3,18% các khoản cho vay – tính đến cuối năm 2005. Các kinh tế gia nước ngoài, khắt khe hơn, cho rằng có thể có đến 15% các khoản cho vay thuộc loại không hiệu quả.

 

Trong khi những con số này không thỏa mãn các tiêu chuẩn của phương Tây, thì tại châu Á, đó lại là những con số rất tốt  – Có thể so sánh với Trung Quốc, những ước lượng độc lập tính tỉ lệ nợ xấu của Trung Quốc nằm trong khoảng từ 35 đến 50% GDP.

 

Nợ xấu

 

Cho dù đã cố gắng làm trong sach hệ thống tài chính bằng cách chuyển các khoản nợ xấu từ sở hữu nhà nước sang các cơ quan quản lý tài sản thì rốt cuộc Trung Quốc vẫn bị sa lầy với một đống nợ xấu.

 

Các ngân hàng không phải là nơi duy nhất phải gánh phiền toái với những khoản nợ xấu, mà có rất nhiều khu vực của nền kinh tế Trung Quốc trong nhiều năm đã phụ thuộc vào các khoản cho vay trợ cấp, vốn là biện pháp giải quyết vấn đề công ăn việc làm và duy trì tốc độ tăng trưởng. Cắt bỏ dòng tiền đang chảy vào hàng ngàn công ty mà hiệu quả kinh tế là rất đáng ngờ đang làm trầm trọng thêm vấn đề nợ xấu là không dễ dàng.

 

Việt Nam, ngược lại, sẽ không phải loay hoay làm cái việc đánh bùn sang ao trong hệ thống tài chính, vì vấn đề của Việt Nam không lớn. Vẫn có một số lượng không nhiều các doanh nghiệp có nhận được những khoản cho vay trợ cấp và trở nên phụ thuộc vào lượng ngân sách phân bổ của Chính phủ để đảm bảo giải quyết vấn đề công ăn việc làm. Việt Nam, do vậy, vẫn phải đối mặt với một vài vấn đề với các khoản vay không hiệu quả. Nhưng Việt Nam có thể dễ dàng chuyển hướng những dòng tiền này hơn nhiều so với Trung Quốc, tựa như chữa một vết trầy da so với một cuộc phẫu thuật.

 

Tỉ lệ các khoản cho vay không hiệu quả của Trung Quốc đang tạo nên áp lực bắt đất nước này cần liên tục, nhanh chóng tăng trưởng để giữ nền kinh tế không bị chìm, cần xuất khẩu cao để duy trì tốc độ tăng trưởng. Xuất khẩu của Trung Quốc đạt 583 tỉ USD trong năm 2004, xấp xỉ 37% GDP. Trong khi xuất khẩu Việt Nam đạt 23,7 tỉ USD cùng năm, chiếm 56% GDP.

 

Cho dù xuất khẩu của Trung Quốc chiếm tỷ trọng trong GDP thấp hơn Việt Nam, nhưng do bản chất của hoạt động và cơ cấu hàng xuất khẩu, kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào tình trạng sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu.

 

Xuất khẩu

 

Trung Quốc có xu hướng gia tăng từ việc sản xuất các hàng hóa đơn giản như may mặc, giày và các sản phẩm nhựa sang các đồ điện tử tinh vi và thiết bị cơ khí. Các sản phẩm điện tử và cơ khí xuất khẩu đạt 244 tỉ USD trong nửa đầu năm 2006, hơn 2,5 lần so với 91,5 tỉ USD so với các sản phẩm tiêu tốn nhân côngựa vào sức lao động  như các sản phẩm may mặc và thêu ren.  Ba khu vực tăng trưởng cao nhất là thiết bị vận tải (68%), thiết bị viễn thông ( 40%) và phụ tùng ô tô (37%). Việt Nam, mặt khác, lại chủ yếu phụ thuộc vào các hàng hóa công nghiệp nhẹ. Hầu hết kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến từ 6 ngành công nghiệp thu ngoại tệ lớn nhất: Dầu thô, dệt may, dày giép, thủy sản, đồ gỗ và gạo.

 

Cho dù có hướng tới các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao được nhìn nhận như dấu hiệu tích cực cho quá trình phát triển, nguồn lợi thu được của Việt Nam hiện tại chủ yếu vẫn sẽ phụ thuộc vào các nhóm hàng hóa và công nghiệp nhẹ. Trong Mặc dù có lực lượng lao động được đào tạo và hệ thống các cảng sẽ tạo nền tảng cho công nghiệp công nghệ cao phát triển mạnh (do vậy Intel đã chú ý và hành động lập tức, bằng chứng là 1 tỉ USD đầu tư vào Việt Nam trong tháng 11), quá trình chuyển đổi này sẽ mất nhiều thời gian.

 

Trong thời gian chờ đợi, đất nước này sẽ xây nền móng với những nhóm hàng hóa tiêu dùng thiết yếu, những nhóm hàng hóa mà tất cả mọi người đều cần bất kể giá là bao nhiêu - giúp Việt Nam có một dòng vào tài chính ổn định khi chuyển sang công nghiệp hóa.

 

Đầu tư

 

Cho dù Việt Nam có rất nhiều lợi ích hấp dẫn các dòng vốn nước ngoài, Việt Nam cũng không thể hấp dẫn hết đầu tư nước ngoài của châu Á. Dân số khoảng 84 triệu người rõ ràng là nhỏ bé khi đặt cạnh thị trường lao động 1,3 tỉ người của Trung Quốc. Nhưng các nhà đầu tư có lẽ vẫn sẽ chọn Việt Nam do sự ổn định so với những nước láng giềng. Trong khi kinh doanh ở Thái Lan, nhà đầu tư phải đối mặt với những sự điều chỉnh gây sốc và quay ngoắt 180O, thì ở Việt Nam, họ chỉ phải đối mặt với một vài xu hướng đầu cơ.

 

Nền kinh tế tương đối ổn định (so với châu Á) cho Việt Nam một vị trí sáng sủa hơn khi các nhà đầu tư có xu hướng đa dạng hóa các khoản đầu tư của họ ra khắp châu Á.

 

Ở phương Bắc, Trung Quốc gia tăng việc hướng sự phát triển vào phía trong, phục vụ người dân của lục địa mênh mông của họ, trong khi kiểm soát sự tăng trưởng tại các vùng biên duyên.

 

Việt Nam, theo cách khác, lại đang xuất hiện trên vũ đài thế giới với vị trí tương đối mạnh – chín muồi cho việc gia tăng đầu tư nước ngoài và nâng cao sức hấp dẫn chung với các hệ thống kinh doanh toàn cầu.

 

Stratfor (viết tắt từ Strategy Forecast) là một trong những hãng phân tích chiến lược hàng đầu thế giới, chuyên cung cấp các phân tích và dự báo chiến lược về địa chính trị và kinh tế cho các chính phủ và các tập đoàn đa quốc gia, phục vụ quá trình ra chính sách và quản lý rủi ro.

 

Theo Kuwait Times

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất